Hotline: 0978.695.888

Hotline: 0978.695.888

Bài viết được xem nhiều

Nấm Linh Chi to không có nghĩa là tốt

Nấm Linh Chi to không có nghĩa là tốt

Nên chọn: Nấm Linh Chi đỏ được trồng chuyên nghiệp, được kiểm soát bởi các cơ quan chuyên môn để chất lượng ổn định, đảm bảo hiệu quả và không...

Chi tiết

5 tiêu chuẩn chọn nấm Linh chi tốt

5 tiêu chuẩn chọn nấm Linh chi tốt

Năm tiêu chuẩn để chọn nấm Linh chi tốt là (1) màu sắc (2) mùi vị (3) lượng bào tử (4) độ ẩm (5) an toàn sử dụng 1. Màu sắcNên...

Chi tiết

Nấm linh chi chữa bệnh gì?

Nấm linh chi chữa bệnh gì?

Nấm linh chi là một dược liệu mà con người từ xưa đã biết dùng làm thuốc. Trong "Thần nông bản thảo" xếp nấm linh chi

Chi tiết

Cách sử dụng nấm linh chi

Cách sử dụng nấm linh chi

Nấm linh chi rất cứng và nhiều khách hàng đã và đang hỏi về cách sử dụng. Nhân đây, chúng tôi sẽ cung cấp cho quý vị những cách sử dụng...

Chi tiết

lh-trong-nam

A+ A A-

Ngoài phương pháp phẫu thuật lấy sỏi cổ điển, vài thập niên qua có nhiều phương pháp loại bỏ sỏi niệu như tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi ít xâm lấn
Ngoài phương pháp phẫu thuật lấy sỏi cổ điển, vài thập niên qua có nhiều phương pháp loại bỏ sỏi niệu như tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi ít xâm lấn (lấy sỏi thận qua da, lấy sỏi nội soi sau phúc mạc). Nhưng thuốc chữa sỏi niệu quản trong phương pháp điều trị nội khoa sỏi niệu (dùng thuốc) vẫn còn phát huy tác dụng trong các giai đoạn bệnh nào đó hoặc kết hợp với phương pháp điều trị ngoại khoa.

Phương pháp điều trị nội khoa sỏi niệu thường được sử dụng hai nhóm thuốc:


Thuốc điều trị cơn đau quặn thận do sỏi
Thường dùng gồm nhóm kháng viêm không steroid (diclofenac, kerolac) hay nhóm á phiện (tramadol, meperidin). Nhóm á phiện ức chế thần kinh trung ương, làm giảm đau sớm hơn (sau khi dùng 10 phút). Nhóm kháng viêm không steroid ức chế tổng hợp chất prostaglandin, làm giảm đau tuy có chậm nhưng mạnh hơn, nhất là khi dùng đường tiêm.
Trước đây, dùng chất kháng muscaric làm giảm co thắt cơ trơn niệu quản như buscopan. Về thực hành khi dùng các chất kháng muscaric như buscopan dưới dạng riêng lẻ hay kết hợp với hai nhóm thuốc trên không thu được ích lợi gì thêm về giảm cơn đau quặn thận. Vì vậy, nay không dùng nữa.
Trước đây, người bị sỏi được khuyên uống nhiều nước hay dùng thuốc lợi tiểu với hy vọng làm thoát sỏi ra ngoài, nhưng thực tế không thu được ích lợi đó, đôi khi có thể gây giãn đài bể thận niệu quản, suy thận.
Thuốc làm tan sỏi hay tống sỏi ra ngoài
Thuốc làm tan sỏi
Trước đây dùng piperazin làm cho acid uric trong nước tiểu thải dễ dàng, không kết tinh lại thành sỏi, nhưng hiện nay ít dùng. Người bị bệnh gut có acid uric cao, kết tinh kết thành urat ở khớp, dưới da. Có nhiều thuốc làm tăng sự thải acid uric (như probecnic, benzbromazon, sulphipyrazon). Tuy nhiên chỉ dùng các thuốc này để chữa bệnh gut. Khi dùng, lượng acid uric trong nước tiểu tăng lên, phải uống nhiều nước (kèm natribicarbonat) để nồng độ acid uric hạ thấp, không gây kết tinh sỏi urat.
Hiện còn dùng một hỗn hợp các chất terpen (như pinen, camphen, cineol, fenchon, borneol, anethol) nhằm làm tan và tống suất sỏi, tăng lượng máu qua thận, tăng lượng nước tiểu, giảm viêm đường niệu.
Thuốc giúp tống sỏi ra ngoài
Sỏi có kích thước nhỏ dưới 5mm có khả năng tự thoát ra ngoài nhưng với thời gian dài (khoảng 40 ngày). Dùng thuốc sẽ giúp cho việc tống sỏi nhanh hơn.
Trong niệu quản đặc biệt là đoạn cuối có nhiều thụ thể alpha adrenegic-1 làm co thắt cơ trơn gây trở ngại cho việc thoát sỏi. Dùng thuốc chẹn canxi như nifedipin hay thuốc cản trở alpha adrenecgic-1 như tamsulosin sẽ giảm co thắt cơ trơn, giúp tống sỏi dễ dùng hơn.
Phù nề niệu quản tại vị trí sỏi cản trở sỏi thoát, dùng corticosteroid như metyl prednisolom hay delflazacort sẽ làm giảm phù nề giúp tống sỏi dễ dàng hơn.
Đã có nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy, dùng các thuốc này tỷ lệ sỏi bị tống ra ngoài cao hơn có ý nghĩa so với không dùng thuốc hay dùng thuốc vờ (giả dược). Nên dùng phối hợp các thuốc này thì tỷ lệ tống sỏi ra ngoài cao hơn có ý nghĩa so với dùng mỗi thứ riêng lẻ. Thuốc có hiệu quả cả khi sỏi có đường kính lớn hơn 5mm thậm chí có trường hợp 12mm. Dùng thuốc sớm khi sỏi còn nhỏ, hiệu quả cao hơn và an toàn hơn.
Từ đó, người ta đưa ra 2 công thức dùng: hoặc kết hợp nifedipin với methyl prednisolon hay delflazacort hoặc kết hợp tamsulosin với delflazacort. Công thức sau cho thời gian tống sỏi nhanh hơn.
Một vài lưu ý khi dùng:
- Không dùng cùng lúc cả nifedipin và tamsulosin vì cả hai sẽ gây tụt huyết áp mạnh (đặc biệt ở tư thế đứng).
- Không dùng tamsulosin cùng với các thuốc chẹn thụ thể alpha adrenecgic khác (như prazosine, terazorine) vì làm tụt huyết áp mạnh (đặc biệt ở tư thế đứng).
- Không dùng nifedipin với các thuốc chẹn canxi hay các thuốc hạ huyết áp khác vì làm tăng tác dụng hạ huyết áp.
Cả hai thuốc đều phải dùng rất cẩn trọng với người suy gan thận và người cao tuổi; cần giảm liều so với người bình thường.
Thận trọng và tốt nhất tránh dùng cho người có thai và cho con bú.

Tề thái là loại cỏ mọc hoang ở miền Bắc nước ta. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây. Trong dân gian cũng dùng để nấu cháo, ép nước tươi để uống hoặc làm bánh dạng bánh khúc tề thái, dùng cho các loại xuất huyết, phù nề, đau mắt đỏ, bị sỏi thận, viêm đường tiết niệu.

Tề thái, Cỏ tâm giác - Capsella bursa-pastoris (L.) Medic., thuộc họ Cải - Brassicaceae.

Mô tả: Cây thảo cao 10-60cm, mọc hằng năm hay hai năm, năm đầu mang một vòng lá hình hoa thị và sang năm thứ hai, có một thân mang hoa phân nhánh ít hoặc không phân nhánh. Lá luôn luôn có lông mềm, hình dạng rất thay đổi, kéo dài, nguyên

hoặc có răng, có khi còn chia thùy; các lá trên thường hẹp, hình ngọn giáo, nguyên. Hoa mọc thành chùm ở ngọn thân, nhỏ cỡ 3-4mm, có 4 cánh hoa màu trắng. Quả hình trái xoan ngược chuyển thành dạng tim đều mang bởi một cuống dài 6-9mm. Hạt nhỏ, nhiều, hình trứng.

dac-tri-soi-than-don-gian-bang-cay-te-thai

Cây ra hoa kết quả quanh năm, chủ yếu từ tháng 3 đến tháng 8.

Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Capsellae, thường dùng với tên Tề thái.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc nhiều ở các nước ôn đới; ở nước ta, cây rau tề mọc hoang ở nhiều nơi từ các tỉnh vùng cao như Lào Cai (Sapa), Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái đến Ninh Bình, Hà Tây, Hà Nội, ..., thường gặp trên những bãi cỏ ven bờ sông, bãi suối ẩm, ruộng hoang. Cũng có khi được trồng. Ðể làm thuốc, ta thu hái toàn cây, có khi bỏ rễ, vào cuối xuân, mùa hè và mùa thu. Rửa sạch và phơi khô ngoài nắng hay trong râm ở nhiệt độ 30-45oC.

Thành phần hóa học: Trong cây có một alcaloid không bền vững là bursin; còn có những chất khác như cholin, acetylcholin, tyramin, thiamin; các acid hữu cơ: thiocyanic, citric, malic, fumaric (chưa thấy có trong các cây cùng họ), tartric, tanic và bursinic. Ngoài ra còn có vitamin C, sorbitol, adonitol, inostol, diosmetol, rhamno-glucosid, hyssopin, ... Ngày nay người ta biết có nhiều saponoside.

Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, dịu, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi niệu, chỉ huyết, minh mục, giáng áp. Người ta đã biết tác dụng trương lực, cầm máu, điều hoà kinh nguyệt, làm tiêu sỏi của Tề thái.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa: Cảm mạo phát nhiệt, sởi, viêm ruột, đau bụng ỉa chảy, sỏi niệu đạo, sỏi bàng quang, sỏi thận, đái ra dưỡng trấp, huyết áp cao, thổ huyết, đái ra máu, băng huyết, kinh nguyệt quá nhiều, mắt đỏ sưng đau, bệnh thanh manh ế chướng.

Liều dùng 6-12g hay hơn (15-60g) sắc uống. Có thể chế cao lỏng hay cồn thuốc. Dùng ngoài chữa mụn nhọt trĩ, lấy cây tươi giã đắp.

Cây cối xay là vị thuốc nam đa công dụng, cây có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, điều trị tiểu rắt, tiểu buốt, bí tiểu, điều trị bệnh trĩ và đau nhức xương khớp. Nào ta cùng tìm hiểu thêm về cây thuốc này.

Cối xay, Giằng xay - Abutilon indicum (L.) Sweet, thuộc họ Bông - Malvaceae.
Mô tả: Cây nhỏ sống hàng năm hay lâu năm, mọc thành bụi, cao 1-2m, có lông mềm trên toàn thân và các bộ phận của cây. Lá mọc so le, hình tim, mép khía răng. Hoa vàng, mọc ở nách lá, có cuống dài bằng cuống lá. Quả gồm tới 20 lá noãn dính nhau nom như cái cối xay lúa. Hạt hình thận, nhẵn, màu
đen nhạt.
Mùa hoa quả tháng 2-6.

cay-coi-xay-dieu-tri-tieu-buot-tieu-rat-don-gian-hieu-qua


Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Abutili Indici
Nơi sống và thu hái: Loài cây của vùng Ấn Độ - Malaixia, mọc hoang khắp nơi và cũng được trồng làm thuốc. Nhân giống bằng hạt vào đầu mùa mưa. Thu hái cây vào mùa hè thu, đem phơi hay sấy khô; có thể tán thành bột để dùng dần.
Thành phần hoá học: Lá chứa nhiều chất nhầy và asparagin. Cây chứa tinh dầu với các thành phần là -pinen, caryophyllen oxyd, cineol, geraniol, geranyl acetat, alemen, eudesmol, farnesol, borneol.
Hạt chứa raffinose 1,6% và dầu nửa khô 4,21% gồm chủ yếu là glycerid của các acid linoleic, oleic, palmitic, stearic. Rễ chứa dầu béo, - sitosterol, -amyrin và một alcaloid chưa xác định.
Tính vị, tác dụng: Cối xay có vị hơi ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, long đờm và lợi tiểu. Lá có nhiều chất nhầy dịu kích thích. Vỏ làm se và lợi tiểu. Hạt có tác dụng kích dục, nhuận tràng và làm dịu kích thích. Nước hãm rễ có thể giảm sốt.
Công dụng, chỉ định và phối hợp Thường được dùng trị 1. Sổ mũi; sốt cao, đau đầu dữ dội, viêm tuyến mang tai truyền nhiễm; 2. Tật điếc, ù tai, đau tai; 3. Lao phổi; 4. Giảm niệu (tiểu tiện vàng, đỏ hoặc đái dắt, bị tiểu buốt). Liều dùng 15-30g toàn cây, hoặc 6-16g lá, 2-4g hạt; dạng thuốc sắc. Lá khô nấu nước
uống chữa cảm sốt, nhức đầu, bí tiểu tiện, thường phối hợp với Rau má,

Khi đi du lịch biển, hải sản là món được nhiều người lựa chọn nhất. Tuy nhiên, đây lại là nhóm thức ăn gây dị ứng nhiều nhất. Để ăn hải sản ngon, bổ, có lợi cho sức khỏe, bạn cần lưu ý những điều sau. 
Không nên uống trà sau khi ăn hải sản vì trong lá chè có acid tannic. Lượng acid tannic có trong trà khi kết hợp với lượng canxi có trong hải sản cũng sẽ tạo thành canxi không hòa tan, gây kích ứng lên hệ tiêu hóa. Bên cạnh đó, nó cũng gây ra các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, nôn mửa và hiện tượng kết sỏi dẫn đến sỏi thận. Tốt nhất sau khi ăn hải sản 2 tiếng trở lên bạn hãy uống trà.

khi-an-hai-san-can-tranh-tuyet-doi-nhung-dieu-nay


Không ăn hải sản với bia vì dễ bị bệnh gút. Ăn hải sản, uống bia vốn rất phổ biến bởi tôm, cua sản sinh ra axit uric (nguyên nhân gây bệnh Gout, sỏi thận…) và khi uống đồng thời với bia sẽ đẩy nhanh tốc độ hình thành của acid uric. Lượng axit uric dư thừa sẽ tích tụ tại các khớp xương hoặc các mô mềm từ đó dễ dàng mắc chứng gút, viêm khớp xương và mô mềm, vô cùng có hại cho sức khỏe.

 

Không nên luộc, hấp hải sản đông lạnh. Bạn nên hạn chế luộc hay hấp những loại hải sản trữ quá lâu trên ngăn đá. Nó thích hợp để xào, chiên hơn bởi sau thời gian cất trữ, vi khuẩn dần hình thành, protein mất đi nhiều, hương vị không còn tươi ngon nữa.


Không ăn hải sản cùng trái cây. Thói quen ăn trái cây sau khi ăn là khá phổ biến để giúp làm cho miệng sạch sẽ và khử mùi hôi của hải sản. Nhưng đây lại là một thói quen sai lầm. Bởi vì khi ăn cả hai loại cùng một lúc sẽ làm cho quá trình hấp thụ protein, canxi của hải sản kết hợp với lượng tannin có trong trái cây tạo ra một loại canxi không tan, điều này sẽ gây kích ứng lên hệ tiêu hóa gây chướng bụng, nôn...


Không ăn hải sản đã chế biến từ lâu. Hải sản bị chết hoặc bảo quản ở nhiệt độ thông thường, chúng rất nhanh chóng bị các vi khuẩn xâm nhập và phát triển nên dễ gây bệnh.


Không ăn hải sản cùng với thực phẩm có tính hàn cao. Hải sản vốn dĩ đã có sẵn tính hàn, do đó khi ăn tốt nhất nên tránh ăn kèm với những thực phẩm mang tính hàn khác (như: rau muống, dưa chuột, dưa hấu, lê, những đồ uống có gas, nước lạnh…) dễ gây cảm giác khó chịu, đầy bụng, khó tiêu.

Nên ăn hải sản tươi sống và được nấu chín. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, khi ăn hải sản, bạn hãy chọn hải sản tươi sống (cá còn bơi, tôm nhảy, ghẹ sống) bởi giá trị dinh dưỡng, sau đó mới là hải sản đã được đông lạnh. Muốn chế biến hải sản còn giữ được nhiều giá trị dinh dưỡng và vị ngọt thì nên hấp, luộc, nướng hơn là chiên.


Không ăn hải sản cùng với thực phẩm giàu vitamin C. Những món ăn chế biến từ hải sản giáp xác như tôm, cua, sò, ốc thường rất bổ dưỡng và tươi ngon. Tuy nhiên nó lại chứa hàm lượng lớn asen pentavenlent. Bình thường những chất này không gây hại cho cơ thể, nhưng nếu ăn kèm với lượng lớn thực phẩm giàu vitamin C thì lại gây hại cho cơ thể. Lúc này, asen pentavenlent sẽ chuyển hóa thành asen trioxide (dân gian thường gọi là thạch tín) gây ngộ độc cấp tính, nếu nghiêm trọng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Trong đời mỗi người hầu như đều gặp ít nhất 1 lần vấn đề đi tiểu buốt do viêm nhiễm đường tiết niệu. Tuy nhiên, khi hiện tượng đi tiểu buốt diễn ra đi kèm với hiện tượng nước tiểu có lẫn máu có thể bạn mắc phải bệnh nguy hiểm như sỏi thận đường tiết niệu, sỏi niệu quản, ung thư thận…

Các chuyên gia về tiết niệu cho rằng, tiểu ra máu là một triệu chứng của nhiều bệnh không riêng cho một bệnh nào. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên chứng tiểu ra máu, trong đó một thủ phạm lớn nhất được biết đến là do thận. Các bệnh về thận có nguy cơ cao gây nên việc đi tiểu ra máu.

neu-bo-qua-trieu-chung-tieu-buot-ra-mau-coi-chung-benh-hiem-ngheo

Sỏi đường tiết niệu là nguyên nhân thường gặp ở bệnh nhân đi tiểu ra máu nhiều lần. Sỏi có thể ở nhiều vị trí khác nhau của đường tiết niệu như sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và thậm chí sỏi kẹt ở niệu đạo. Sỏi hệ tiết niệu gây tiểu ra máu khi di chuyển xuống dưới làm tổn thương lớp niêm mạc đường tiết niệu.

Chảy máu ở thận do sỏi thường gặp những trường hợp mỗi khi lao động nặng nhọc, đi tàu xe bị xóc nhiều gây nên cơn đau quặn thận thì xuất hiện nước tiểu có máu. Nhưng nhiều khi mọi hoạt động nặng nhọc dừng lại, được nghỉ ngơi tốt lại hết đái máu.

Chứng tiểu ra máu cũng có thể gặp ở người nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Vi khuẩn thâm nhập đường tiết niệu, gây viêm và làm tổn thương niêm mạc niệu đạo, bàng quang, niệu quản, đài bể thận, cầu thận... là nguyên nhân khiến nước tiểu có hồng cầu.

Triệu chứng của viêm đường tiết niệu phụ thuộc vào vị trí bị viêm như sốt cao, tiểu buốt, tiểu dắt; sốt cao, rét run, đau hố thắt lưng...

Mọi người không nên tự ý điều trị cũng như chậm trễ trong việc đến khám sẽ làm nặng thêm tình trạng bệnh lý nguy hiểm này.

Bệnh sỏi thận khi sỏi còn nhỏ rất dễ điều trị nhưng chúng cũng rất dễ tái phát trở lại, vì vậy loại bỏ thận một cách triệt để là 1 việc làm vô cùng quan trọng. Với những nguyên liệu có sẵn trong nhà bếp của bạn có thể tạo nên 1 công thức đồ uống tuyệt vời cho bạn chữa sỏi thận hiệu quả mà chi phí rất hạt dẻ:

Với những thực phẩm có sẵn ngay trong bếp như chanh, rau mùi hay mật ong, dầu oliu…. chúng ta hoàn toàn có thể loại bỏ sỏi thận cũng như tăng cường chức năng cho thận, giúp thận và túi mật khỏe mạnh hơn. Những phương thuốc tự nhiên không chỉ lành tính mà còn đem lại hiệu quả đáng kinh ngạc. Đặc biệt, những công thức từ những sản phẩm có sẵn trong nhà bếp sẽ giúp bạn tiết kiệm chi phí và dễ dàng thực hiện.

cong-thuc-tri-soi-than-bang-nhung-nguyen-lieu-don-gian-trong-nha-bep

Công thức chữa bệnh sỏi thận tự nhiên

Thành phần:

- 1 ly siro maple

- 250g dầu ôliu nguyên chất

- 250g chanh (cả vỏ)

- 250g rau mùi tây

- 250g mật ong nguyên chất tự nhiên

Cách làm:

1. Rửa sạch chanh, cắt thành từng lát mỏng, trộn đều.

2. Mùi tây bỏ rễ, xắt thành miếng nhỏ và trộn đều cùng chanh.

3. Thêm mật ong nguyên chất, dầu oliu và siro maple vào hỗn hợp rồi trộn đến khi hỗn hợp hòa quyện và mịn mượt.

4. Cho hỗn hợp vào chai thủy tinh và bảo quản trong tủ lạnh để tránh hư hỏng.

Với công thức trên, bạn uống một thìa canh mỗi sáng trước khi ăn và một thìa canh mỗi tối trước khi đi ngủ. Uống đều đặn 2 lần mỗi ngày sẽ giúp loại bỏ sỏi thận rất tốt.

Lưu ý: Bạn không nên làm công thức trên với số lượng lớn, mà nên chia nhỏ để các nguyên liệu được tươi nhất có thể và phát huy đặc tính chữa bệnh triệu để. Đây không chỉ là phương thuốc điều trị tự nhiên mà còn rất thơm ngon và dễ uống. Không chỉ vậy, công thức này cũng giúp điều trị nhiều loại bệnh khác như nhiễm trùng và nhiễm khuẩn. Trong quá trình điều trị, tốt nhất bạn nên tăng cường uống thật nhiều nước và các loại chất lỏng để đảm bảo loại bỏ triệt để sỏi thận.